Bệnh Viêm Phổi – Những thông tin cơ bản

Viêm phổi là hiện tượng nhiễm trùng cấp tính ở phổi.

Nguyên nhân

Viêm phổi có thể do biến chứng từ bệnh sởi, ho gà, cúm, viêm phế quản, hen hoặc bất kì bệnh nặng nào khác. Trong các bệnh sưng phổi, nhiều nhất là do vi trùng Pneumococcus. Ngoài ra còn có thể do vi trùng (bacteria) khác, siêu vi trùng (virus), có khi do ký sinh trùng (parasites), hoặc loài nấm (fungus).

Continue reading

Posted in Bệnh Viêm Phổi | Leave a comment

Bệnh viêm phổi – Triệu chứng, nguyên nhân và điều trị

Viêm phổi là tình trạng viêm ở phổi thương do vi khuẩn, virus, nấm hoặc các tác nhân khác gây ra. Viêm phổi là vấn đề đặc biệt đáng lo ngại đối với người già, người có bệnh mạn tính hoặc bị suy giảm miễn dịch, nhưng cũng có thể xảy ra ở người trẻ khỏe. Đây là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho trẻ em trên toàn thế giới.

Continue reading

Posted in Bệnh Viêm Phổi | 1 Comment

Cứu bé sơ sinh 7 lạng, gần chết lâm sàng

Sáng 20/12, bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội đã làm lễ ra viện cho một bệnh nhi sinh non, 28 tuần tuổi, nặng 700 gam.

Trước đó, ngày 11/9 sản phụ Hoàng Thị Nguyệt, 28 tuổi ở Nghệ An mang thai 7 tháng bị nhiễm khuẩn huyết và có dấu hiệu chuyển dạ. Sản phụ sinh ra một bé gái nặng 700 gam, đặt tên là Hoàng Thị Hoài Thương.

Tình trạng bệnh nhi hết sức nguy kịch: nhiễm khuẩn huyết sơ sinh từ bụng mẹ, gần như trong tình trạng chết lâm sàng, toàn thân tím tái, ngừng thở, nhịp tim rời rạc 50-60 lần/phút, không có phản xạ sơ sinh và trương cơ lực. Tiên lượng tại thời điểm nhập viện: tỷ lệ tử vong gần như 100%. Sản phụ Nguyệt sau một ngày sinh con đã tử vong vì bệnh tình quá nặng.

39502.jpeg

Bé Thương xuất viện với vẻ kháu khỉnh, khỏe mạnh và nhanh nhẹn.

Các bác sĩ khoa nhi, khoa sản đã phối hợp cứu chữa cho bệnh nhi. Mọi thao tác cấp cứu hồi sức sơ sinh hiện đại nhất lập tức được tiến hành, nhưng dừng bóp bóng bệnh nhi lại bị suy hô hấp. Các bác sĩ đã phải đặt nội khí quản, thở máy và bơm Curosurf. Bệnh nhi có dấu hiệu phục hồi. Tuy nhiên, hồi sức cấp cứu đã khó, duy trì sự sống cho bệnh nhi còn khó hơn. Vì bệnh nhi bị sốc nhiễm khuẩn, suy hô hấp, rối loạn điện giải, rối loạn đường huyết… Sau 3 tháng điều trị chăm sóc tích cực, trọng lượng của bé đã lên 3.100gam, các chỉ số đánh giá sự phát triển trong giới hạn bình thường.

Theo bác sĩ Dũng, với trẻ sơ sinh sinh non có trọng lượng dưới 1kg, tỉ lệ được cứu sống ở VN chỉ 10-20%, do việc phối hợp các chuyên khoa sản – nhi ở nhiều địa phương chưa được tốt. Với các bé được cứu sống, nhất là trường hợp mất mẹ như bé Phương, bệnh viện cần cung cấp cho gia đình kiến thức chăm sóc trẻ sơ sinh, kiến thức tắm bé, cho bé bú hoặc ăn sữa công thức, tránh các bệnh viêm phổi, tiêu chảy cho bé sau này. Với trường hợp bé Phương, bệnh viện quyết định miễn 100% viện phí, đồng thời kêu gọi các nhà hảo tâm hỗ trợ gần 100 triệu đồng để gia đình chăm lo cho bé sau này.

Theo Bee.net.vn

Posted in Uncategorized | Tagged | Leave a comment

Nướng thịt trên bếp gas hại cho sức khỏe

Bếp gas là một công cụ nấu nướng rất tiện dụng và nhanh chóng trong nhiều gia đình. Tuy nhiên, không phải bất kỳ loại đồ ăn nào được nấu bằng gas cũng bảo đảm sức khỏe cho người sử dụng, đặc biệt là những thực phẩm được chế biến trực tiếp trên bếp gas như món thịt nướng.

39471.jpeg

Không nên nướng thịt trên bếp gas.

Nghiên cứu 17 món thịt được chế biến theo các loại đồ đun nấu khác nhau bao gồm: bếp gas, bếp củi, lò nướng, bếp điện…, các chuyên gia phát hiện thấy: hàm lượng chất polycyclic aromatic hydrocarbon (PAHs), các phân tử ultrafine… và thành phần các chất khói có hại khác đối với phổi trong quá trình nướng thịt bằng bếp gas cao hơn rất nhiều so với các loại bếp nấu khác. Trong đó, các nhà khoa học đặc biệt chú ý tới nồng độ cao PAHs, bởi đây là thành phần có khả năng làm gia tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư. Ngoài ra, các phân tử có trong khói bốc lên trong quá trình nướng thịt bằng bếp gas cũng rất có hại cho phổi, thậm chí làm gia tăng tỷ lệ mắc các chứng dị ứng, ho… viêm phổi của những người xung quanh do hít phải.

Ngọc Minh (Theo ABC)

Posted in Uncategorized | Tagged | Leave a comment

Những ca bệnh kỳ lạ nhất năm 2010

Cô bé 12 năm không thể khép mắt, người phụ nữ có trái tim bên phải, bà già mang khối u to như cái thúng… là những ca bệnh hiếm gặp khiến các bác sĩ cũng phải ngạc nhiên.

Cô bé 12 năm không thể khép mắt

Từ khi chào đời đến nay, đôi mắt của bé Thảo (thôn Kim Đôi, xã Quảng Thành, uyện Quảng Điền, Thừa Thiên Huế) lúc nào cũng mở, kể cả khi ngủ. Thỉnh thoảng, ở đuôi mắt em còn rỉ ra những vệt máu.

39457.jpeg

Bé Thảo 12 năm không thể nhắm mắt. Ảnh: MT.

Càng lớn, mắt Thảo càng lồi ra, nhìn mờ đi. Hai bên tròng mắt của em không thể di chuyển khiến Thảo chẳng thể nhìn lên, nhìn xuống hay nhìn sang hai bên được. Đôi mắt không bao giờ chịu khép lại rất hay bị bụi bẩn rơi vào, khiến em càng nhức nhối. Không chỉ bị căn bệnh lạ ở mắt, Thảo còn mắc bệnh bướu tim. Dù vậy, đến tuổi đi học Thảo rất thích đến trường và học rất giỏi.

Thấy vậy, dù hoàn cảnh rất khó khăn nhưng gia đình em vẫn quyết tâm chữa bệnh cho con. Tuy nhiên, chữa trị nhiều lần tại cả Huế và Sài Gòn, tình trạng bệnh của bé Thảo vẫn chưa cải thiện. Các bác sĩ ở Bệnh viện Mắt trung ương cũng như ở khoa Tạo hình, Bệnh viện Việt Đức đều khẳng định, cơ hội chữa khỏi mắt cho bé Thảo rất ít. Thảo đang chuẩn bị thủ tục để sang Mỹ chữa mắt theo diện từ thiện.

Khối u to như cái thúng trong bụng bà già

Cuối tháng 3/2010, các bác sĩ khoa Ngoại phụ khoa, Bệnh viện K đã phẫu thuật lấy ra khối u buồng trứng nặng 19kg cùng với 2,5 lít dịch trong bụng của một phụ nữ 57 tuổi là bà Mai Thị Kết, ở xã Nga Hải, huyện Nga Sơn, Thanh Hóa.

3 năm trước, bà Kết thấy bụng tức, ăn vào càng khó chịu nên đã đi khám ở Bệnh viện huyện và được chẩn đoán là u nang buồng trứng. Sau ca phẫu thuật lấy khối u, bụng bà vẫn ngày càng to và hay bị đau.

Năm 2008, bà Kết được đưa lên Bệnh viện K khám và cũng được chẩn đoán là có khối u buồng trứng khá to, hẹn khám lại. Tuy nhiên, phần vì kinh tế khó khăn, lại nghĩ bệnh mình đã ở giai đoạn cuối nên bà không đến viện nữa. Trong thời gian đó, bụng mỗi ngày một to khiến bà Kết khó thở, khó ngủ, việc đi lại của bà cũng rất vất vả.

Mãi tới đầu năm 2010 bà mới vào viện và được bác sĩ đặt lịch mổ. Sau ca mổ, bà Kết dần bình phục.

Người phụ nữ chứa 16 lít nước trong bụng

Bụng tức, phình to, chị Thủy, 42 tuổi (Quảng Trị) vào Bệnh viện Trung ương Huế khám và được chẩn đoán là bị xơ gan. Tuy nhiên, sau khi đặt thông tiểu, các bác sĩ đã lấy ra 10 lít nước ở bàng quang và 6 lít từ đường tiết niệu của chị Thủy.

Tiến sĩ Phạm Như Hiệp, Phó giám đốc Bệnh viện Trung Ương Huế cho biết, đây là một trường hợp rất hy hữu bởi bình thường, chỉ cần ở bàng quang có 0,3-0,5 lít nước là người ta đã không chịu nổi, phải đi tiểu ngay. Nếu lượng nước tích quá nhiều sẽ khiến bàng quang bị giãn và có thể bục.

Theo bác sĩ Hiệp, có thể do chị Thủy cố nhịn tiểu, đến khi lượng nước tích quá nhiều gây phản xạ thắt bàng quang lại, gây bí tiểu và lượng nước lại tích tụ thêm. Ngoài ra, cũng có thể bàng quang của chị có bệnh lý mà chưa phát hiện ra…

Bé sơ sinh nhỏ nhất Việt Nam

Chào đời ở tuần thứ 25 khi mới được hơn 500g, bé Bùi Thị Gái (Bùi Thị Xuân, Hải Dương) là em bé có cân nặng thấp nhất được nuôi sống từ trước tới nay tại Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương cũng như ở Việt Nam.

39458.jpeg

Bé Gái khi đang được điều trị tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương. Ảnh: MT.

Bác sĩ Nguyễn Thanh Hà, Trưởng khoa sơ sinh, Bệnh viện Phụ sản Trung ương, cho biết, khi vừa chào đời, bé Gái được chuyển ngay lên khoa Sơ sinh trong tình trạng rất yếu, hơi thở thoi thóp, tím tái toàn thân. Các bác sĩ đã điều trị cấp cứu và cho cháu thở máy.

Sinh ra khi còn rất non tháng nên hệ hô hấp của cháu bé rất yếu. Các bác sĩ phải đặt em nằm trong khu chăm sóc đặc biệt, có màng lọc không khí, hạn chế người ra vào, đảm bảo vô trùng tuyệt đối để tránh nguy cơ nhiễm trùng, viêm phổi…

Hiện sức khỏe bé gái đã ổn định và em được bố mẹ đón về nuôi tại nhà.

Cô gái 17 năm luôn phải đóng bỉm

Cô gái tên Linh ở Hoằng Hóa, Thanh Hóa, mắc một di tật bẩm sinh vô cùng hiếm gặp, lỗ niệu quản sinh đôi. Một ống đổ vào bàng quang (đúng sinh lý), nhưng ống kia lại đổ thẳng vào âm đạo khiến nước tiểu rỉ ra vùng kín.

Lúc nhỏ, bố mẹ em nghĩ con bị són tiểu hay mắc chứng đái dầm. Gia đình cũng từng đưa em đi khám nhưng ở tuyến dưới không chẩn đoán được nên lại về.

Bác sĩ Kiều Đức Vinh, khoa Tiết niệu, Bệnh viện Trung ương quân đội 108 cho biết, đây là một bệnh dị tật bẩm sinh hiếm gặp. Các bác sĩ đã tiến hành phẫu thuật thắt ống niệu quản đổ nước tiểu sai chỗ. Hiện tượng nước tiểu rỉ ra ở âm đạo được khắc phục. Sức khỏe Linh đã hoàn toàn bình thường.

Người phụ nữ có trái tim bên phải

Chị Nguyễn Thị Yến Mỹ, hiện sống tại thôn Đồng Nà, xã Cẩm Hà, thành phố Hội An, Quảng Nam, có trái tim nằm nhầm chỗ. Khi đi siêu âm thai, bác sĩ mới phát hiện tim chị nằm bên phải, phủ tạng đảo ngược hoàn toàn so với người bình thường.

Theo các bác sĩ, ở trong nước và trên thế giới, tình trạng phủ tạng đảo ngược như chị Mỹ rất hiếm gặp. Tuy phủ tạng đảo ngược nhưng chức năng hoạt động cũng không thay đổi, không ảnh hưởng gì nhiều đến sức khỏe, sinh hoạt của chị.

Ba đời khốn khổ vì bệnh ‘say say’

Trong căn nhà 457/44 khóm Bình Đức 4, phường Bình Đức, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, người đàn ông đi như ngã gió, bước chân nọ xọ chân kia, mặt đỏ gay như say mèm. Anh là Trần Thanh Tưởng, mắc chứng bệnh “say say”.

Chứng bệnh kỳ lạ này di truyền từ bà nội đến cha, rồi nay hành hạ bòn rút sinh lực anh Tưởng. Năm nay mới 32 tuổi nhưng anh Tưởng đang đếm từng ngày đến thời điểm mãi mãi phải ra đi.

Năm 25 tuổi, anh Tưởng đang ngồi đột ngột ngã xuống. Ban đầu anh nghĩ do làm việc mệt mỏi kiệt sức nên không quan tâm. Nhưng sau đó ngày càng ngã nhiều, tay chân yếu đi, lòng anh dậy nỗi kinh hoàng.

Theo lời anh kể, cả cha, cô rồi bây giờ đến lượt anh, đều có biểu hiện bệnh lúc nào cũng có cảm giác như tê tê, say say, thường xuyên ngã, sức khỏe yếu dần đến kiệt sức mà chết. Đến bệnh viện, bác sĩ chẩn đoán bệnh có liên quan đến thần kinh và mang yếu tố di tuyền. Song do gia cảnh khó khăn nên hầu như mọi người trong gia đình chỉ đi khám qua loa rồi phó mặc cuộc đời cho số mệnh.

Theo VnExpress

Posted in Uncategorized | Tagged | Leave a comment

Độc tính và những tương tác cần chú ý

Thuốc ức chế bơm proton (PPI) như omeprazol, lanzoprazol, pantoprazol, rabeprazol esomeprazol được dùng khá rộng rãi cho người viêm loét dạ dày, hội chứng mạch vành. Tuy nhiên, khi sử dụng chúng có nhiều tác dụng phụ và những tương tác bất lợi khi dùng cùng với các thuốc khác….

Sau hội chứng mạch vành cấp (HCMVC), người bệnh được cho dùng thuốc kháng tập kết tiểu cầu (aspirin, clopidogrel) và thường cho dùng thêm PPI, nhằm giảm nguy cơ xuất huyết tiêu hóa do dùng liệu pháp kháng tập kết tiểu cầu.

Trong một nghiên cứu hồi cứu thuần tập (công bố 3/2009) trên 8.205 người bệnh (2003-2006) đã dùng kháng tập kết tiểu cầu (clopidogrel) cho biết: Trong số này có 64% người có dùng PPI và 36% không dùng PPI. Những người có dùng kèm PPI có xu hướng già hơn, có nhiều bệnh đi kèm hơn (đái tháo đường, nhồi máu cơ tim, mạch máu ngoại biên, viêm phổi). So sánh nhóm 1 dùng clopidogrel cùng lúc với dùng PPI (có 5.244 người) và nhóm 2 dùng clopidogrel nhưng không dùng PPI (có 2.961 người) thì thấy tất cả các bệnh tim mạch thứ cấp liên quan ở nhóm 1 đều cao hơn nhóm 2 có ý nghĩa thông kê. Nguyên nhân làm tăng các bệnh tim mạch thứ cấp có thể là do PPI trực tiếp làm giảm sự ức chế kết dính tiểu cầu, hoặc PPI cản trở tác dụng của clopidogrel (ức chế sự biến đổi của clopidogrel tại gan thành các chất có hoạt tính ức chế tập kết tiểu cầu). Một số nghiên cứu sau này cũng cho thấy: sự ức chế tập kết tiểu cầu ở nhóm dùng PPI có sự giảm sút hơn so với nhóm không dùng PPI và sự khác biệt này gần sát với mức có ý nghĩa thống kê.

Từ đó đưa ra khuyến cáo, giữa các kháng tập kết tiểu cầu và các PPI thực sự có tương tác. Tương tác này tuy không dẫn đến tăng có ý nghĩa tử vong chung, nhưng đều nguy hiểm. Trong khi đó việc dùng PPI dự phòng xuất huyết dạ dày là quá rộng rãi (khoảng 50%), cần tránh sự lạm dụng này. Khi dùng thuốc kháng tiểu cầu vẫn có thể dùng PPI nhưng chỉ khi thật cần thiết (có nguy cơ xuất huyết tiêu hóa). Với một số người, có thể dùng các kháng thụ thể histamin H2 thì an toàn hơn như ranitidin (zantac), famotidin (pepcid).

39294.jpeg

Hình ảnh loét dạ dày.

Các tác dụng phụ tương tác khác

Trước đây, các tác dụng phụ và tương tác của PPI đã được biết tới. Sau khi tác dụng, PPI chuyển hoá hoàn toàn tại gan nhờ enzym cytocrom P-450, thành chất không có hoạt tính, không độc. Nhưng vì PPI ức chế enzym cytocrom- 450 nên gây tương tác với các thuốc mà sự chuyển hoá lệ thuộc vào enzym này. Nếu dùng chung với diazepam (thuốc ngủ), phenytonin (chống động kinh) nifedipin (hạ huyết áp), varfarin, ducoumazol (chống đông máu)… thì PPI làm giảm chuyển hoá các thuốc này. Tương tác này yếu, không gây ra hiệu ứng lâm sàng quan trọng (lasoprazol yếu hơn omeprazol), không làm cho dược động học của các thuốc bị thay đổi ở người cao tuổi, nên không cần giảm liều. Tuy nhiên với người suy gan thì cần phải giảm liều.

Các kháng viêm không steroid đều làm giảm các chất bảo vệ dạ dày (do ức chế COX-1). Không dùng chúng khi dùng PPI. Các PPI làm giảm tiết acid đồng thời làm giảm gastrin (chất bảo vệ dạ dày) tạm thời, có hồi phục. Khi dùng PPI liều cao (cơ thể đã quen) thì không giảm liều đột ngột. PPI che lấp triệu chứng u ác tính nên chỉ dùng PPI khi đã loại trừ nguyên nhân này.

PPI tăng nguy cơ nhiễm clostridium difficile (nghiên cứu tại Anh, Canada). Vi khuẩn này thường gây viêm kết tràng màng giả. Riêng omeprazol làm tăng nhiễm nấm Candida.

Omeprazol làm tăng tạm thời transaminase, viêm gan vàng da hay không vàng da, nhức đầu buồn ngủ, chóng mặt, mất ngủ, rối loạn cảm giác; buồn nôn, đau bụng, táo bón, trướng bụng; giảm bạch cầu, tiểu cầu, mất bạch cầu hạt; lú lẫn có hồi phục, kích động, trầm cảm, rối loạn thính giác; gây vú to ở đàn ông, gây co thắt phế quản, đau khớp, viêm thận kẽ (chỉ mức thấp 1%o). Các tác dụng không mong muốn của lasoprazol trên gan, thần kinh, tiêu hoá, máu tương đương như omeprazol.

Lasoprazol có gây ung thư với chuột nhắt khi dùng liều cao kéo dài, bài tiết qua sữa. Tuy nhiên chưa thấy điều này ở các động vật thực nghiệm khác và trên người. Vì vậy, không dùng cả hai thuốc trong 3 tháng đầu thai kỳ và người cho con bú. Không lạm dùng PPI đặc biệt là với người bị bệnh tim mạch, việc dùng càng phải thận trọng.

DS. Bùi Văn Uy

Posted in Uncategorized | Tagged | Leave a comment

Điều trị bệnh viêm đa cơ – viêm da cơ

Viêm đa cơ và viêm da cơ (bao gồm viêm đa cơ kèm biểu hiện ở da) là bệnh hệ thống chưa rõ nguyên nhân có cơ chế tự miễn dịch. Bệnh đặc trưng bởi tình trạng viêm, thoái hóa của các sợi cơ vân, gây yếu cơ, teo cơ, đặc biệt là các cơ ở gốc chi, dẫn đến giảm hoặc mất chức năng vận động. Bệnh gặp ở nữ nhiều hơn nam giới với tỷ lệ nữ/nam khoảng 2/1. Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi, song hay gặp nhất ở độ tuổi 40-60, hiếm gặp hơn ở trẻ em, nếu gặp thì hay ở độ tuổi từ 5 – 14 tuổi.

Biểu hiện của bệnh gồm có yếu cơ gốc chi, đối xứng hai bên, đau cơ tự nhiên, teo cơ nếu ở giai đoạn muộn hoặc khi bệnh tiến triển. Đối với viêm da cơ thì ngoài biểu hiện ở cơ như trên thì còn biểu hiện đặc hiệu ở da như phù tím quanh mi, ban Gottron hay dấu hiệu bàn tay người thợ cơ khí. Ba xét nghiệm cơ bản bao gồm men cơ (CK) tăng cao; điện cơ có dấu hiệu tăng hoạt động tự phát (lúc nghỉ), giảm biên độ, rung sợi cơ, điện thế đa pha (lúc co cơ); sinh thiết cơ có biểu hiện thâm nhiễm tế bào viêm một nhân ở sợi cơ, tổ chức kẽ hay quanh các mạch máu kèm hoại tử cơ. Chẩn đoán xác định viêm đa cơ khi có ít nhất hai trong ba triệu chứng trên, chẩn đoán viêm da cơ khi có viêm đa cơ kèm thêm biểu hiện đặc hiệu ở da.

39289.jpeg

Biểu hiện bệnh viêm da cơ.

Corticosteroid là liệu pháp điều trị cơ bản. Trong trường hợp không đáp ứng thì có thể dùng một số thuốc ức chế miễn dịch khác. Corticosteroid thường khởi đầu với liều cao tấn công, thường dùng prednisolone (hoặc thuốc corticoid khác liều tương đương) 1-2 mg/kg/ngày từ 2-4 tuần, có thể kéo dài hơn sau đó giảm liều dần 5-10mg sau mỗi 2- 4 tuần khi các triệu chứng đau cơ, yếu cơ được cải thiện. Trường hợp bệnh nặng, tiến triển nhanh có thể truyền methyl prednisolone tĩnh mạch liều cao rồi giảm liều dần tùy đáp ứng. Khi tình trạng lâm sàng có dấu hiệu cải thiện rõ rệt, men cơ trở về bình thường thì chuyển sang liều duy trì 5-10mg prednisolone mỗi ngày hay liều thấp nhất mà có thể kiểm soát được bệnh. Lưu ý khi dùng corticosteroid kéo dài có thể gây các tác dụng phụ như viêm dạ dày, hội chứng Cushing, loãng xương, tăng huyết áp, đái tháo đường, tăng nguy cơ nhiễm khuẩn, đục thủy tinh thể… Cần bổ sung canxi, vitamin D cũng như kali và đề phòng các biến chứng tiêu hóa do thuốc. Bệnh cơ do tác dụng phụ của corticoid cũng là một biến chứng cần phân biệt với bệnh cơ do viêm. Nếu triệu chứng cơ nặng lên mà không kèm tăng men cơ, hoặc triệu chứng cơ không cải thiện hoặc tăng lên khi tăng liều corticoid là những dấu hiệu nhận biết tác dụng phụ này.

Trường hợp bệnh nhân không đáp ứng với liều cao corticoid (thông thường sau điều trị 4 tuần mà triệu chứng không cải thiện) hoặc có biểu hiện nặng như khó thở, suy hô hấp hoặc có tình trạng phụ thuộc corticoid (triệu chứng bệnh nặng lên khi giảm liều prednisolone xuống dưới 20mg/ngày) thì cần phối hợp corticosteroid với các thuốc ức chế miễn dịch như methotrexate, azathioprin hoặc cyclophosphamid.

Azathioprin (imuran) thường được dùng phối hợp với corticosteroid nhằm làm giảm liều, qua đó giảm các tác dụng phụ không mong muốn của thuốc này. Thuốc có tác dụng đối kháng chuyển hóa nhân purin, ức chế tổng hợp DNA, RNA và protein từ đó giảm tăng sinh các tế bào miễn dịch, giảm các hoạt động miễn dịch. Thời gian điều trị azathioprin có thể kéo dài tới 6 tháng. Thuốc thường ít có chỉ định cho trẻ em.

Methotrexate uống mỗi tuần một lần, liều khởi đầu thấp sau đó tăng dần liều tùy đáp ứng, thời gian điều trị trong 4-6 tháng.

Trường hợp bệnh nhân không đáp ứng hoặc có chống chỉ định với methotrexate như có viêm phổi kẽ hay xơ phổi) thì dùng cyclophosphomid truyền tĩnh mạch mỗi tháng một lần trong 6 tháng, sau đó có thể duy trì 3 tháng/lần trong 1-2 năm hoặc duy trì bằng các thuốc khác như corticoid liều thấp hay azathioprin.

39290.jpeg

Teo đét tế bào cơ vân trong bệnh viêm đa cơ.

Đối với những bệnh nhân nặng không đáp ứng với điều trị liều cao corticosteroid hoặc có tổn thương gây liệt cơ hô hấp đe dọa tính mạng thì xét dùng globulin miễn dịch truyền tĩnh mạch chậm, có thể nhắc lại sau mỗi tháng tùy đáp ứng. Lưu ý thuốc chỉ dùng cho người lớn.

Ngoài ra có thể dùng các thuốc ức chế miễn dịch khác như mycophenolate mofetil 2g/ ngày hoặc dùng cyclosporine, chlorambucine. Ngày nay, cùng với sự tiến bộ của y học thì một số thuốc ức chế yếu tố hoại tử u (TNF- tumor necrosis factors inhibitors) như etanercept cũng là những thuốc có thể cân nhắc chọn lựa trong điều trị bệnh.

Trong viêm da cơ, ngoài điều trị như trên, nếu có tổn thương da vừa hoặc nặng có thể thêm chloroquine 250mg/ngày hoặc corticosteroid bôi ngoài da.

Bệnh nhân viêm da cơ, viêm đa cơ khi điều trị liều cao corticoid hoặc thuốc ức chế miễn dịch khác cần được nằm viện theo dõi sát sao các biến chứng có thể xảy ra, đặc biệt các biến chứng về tim mạch, hô hấp, xét nghiệm công thức máu cũng như chức năng gan thận. Để theo dõi đáp ứng điều trị cần kiểm tra đánh giá cơ lực, trương lực cơ, làm xét nghiệm men cơ (CK). Điều trị các biến chứng và triệu chứng phối hợp khác nếu có. Phối hợp điều trị lý liệu pháp để duy trì chức năng vận động của khớp tránh biến chứng co cứng khớp.

Điều trị bệnh viêm đa cơ – da cơ rất phức tạp, vì thế muốn điều trị bệnh hiệu quả và tránh những tác dụng không mong muốn, bệnh nhân cần tuân thủ chặt chẽ phác đồ điều trị của thầy thuốc.

ThS. Bùi Hải Bình

Posted in Uncategorized | Tagged | Leave a comment

Ninh Thuận: Nhiều bệnh nhân bị con mò đốt vào chỗ kín

Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Thuận cho biết, ngày càng tiếp nhận nhiều bệnh nhân bị côn trùng Rickettsia Tsutsugamushi (gọi là con ve hay con mò) đốt. Từ đầu năm đến nay, bệnh viện đã tiếp nhận gần 100 trường hợp.

39411.jpeg
Vết loét do côn trùng có tên R.Tsutsugamushi cắn. Ảnh: Bee

Theo Bác sĩ Lưu Ngọc Tuấn, Trưởng khoa truyền nhiễm của bệnh viện cho biết, các bệnh nhân nhập viện chủ yếu có triệu chứng sốt kéo dài, sưng hạch bạch huyết kèm theo đau đầu dữ dội.

Triệu chứng bệnh gần giống với bệnh sốt rét hoặc thương hàn. Nếu không được điều trị kịp thời, sẽ dẫn đến viêm phổi, suy tim, viêm màng não…và sẽ dẫn đến tử vong do suy hô hấp cấp (ARDS).

Tác nhân gây bệnh chính là ấu trùng của loại côn trùng này, là một loại cầu khuẩn Gram âm, có hình bầu dục, thường sinh sống ở những vùng đất xốp, ẩm, có nhiều cây cỏ mọc lúp xúp.

Loại này thường cắn bệnh nhân ở những chỗ kín, khó phát hiện. Dấu hiệu ban đầu chỉ là một vết đỏ sẩm nhỏ, một vài ngày sau sẽ biến thành một bóng nước rồi vỡ ra tạo thành một vết loét hình bầu dục.

Thông thường, 7 ngày sau khi bị loại côn trùng này cắn, bệnh nhân bắt đầu phát bệnh.

Bác sĩ Đinh Thị Phán, người có nhiều năm theo dõi bệnh này cho biết, bệnh này thường xảy ra vào mùa mưa, bệnh phát hiện nhiều ở xã Phước Thuận, huyện Ninh Phước, đặc biệt là ở hai thôn Hiệp Hòa và Phước Khánh là nơi có nhiều vườn, rẫy.

Biện pháp phòng tránh loại côn trùng là, khi đi làm vườn, rẫy, cần mặc áo dài tay, mang ủng, hoặc dùng thuốc đuổi côn trùng xoa thân thể.

Theo Bee.net.vn

Posted in Uncategorized | Tagged | Leave a comment

Fluoroquinolon Có dùng cho trẻ em được không?

Fluoroquinolon (FQ) có phổ kháng khuẩn rộng, được dùng điều trị nhiều bệnh nhiễm khuẩn. Tuy nhiên cần hiểu rõ độc tính của loại thuốc này để tránh lạm dụng nhưng cũng không bỏ sót cơ hội dùng cho trẻ em khi cần thiết.

39303.jpeg

Ảnh minh họa.

Vì sao chưa dùng FQ cho trẻ em?

Ngoại trừ acid nalidixic (negram) được FDA cho phép năm 1962, tất cả các FQ sau này, chưa có loại nào được FDA chính thức cho phép dùng cho trẻ em. Gần đây nhất, năm 2006 đơn xin phép dùng gatifloxacin cho trẻ em cũng bị FDA gác lại. Sở dĩ FQ chưa được cấp phép chính thức dùng cho trẻ em là do 4 vấn đề:

+ Sợ FQ làm tổn thương khớp sụn của trẻ em:

Nghiên cứu trên súc vật thấy FQ gây hại cho sự phát triển của xương và sụn các khớp chịu lực của súc vật nhỏ tuổi, từ đó người ta ngại dùng FQ cho người có thai, trẻ em do sợ ảnh hưởng không tốt đến xương sụn các khớp chịu lực của thai và trẻ nhỏ.

Tuy nhiên, điều này chưa ghi nhận được ở người. Một nghiên cứu thuần tập quan sát, đa trung tâm, so sánh nhóm bệnh nhi dùng FQ (ciprofloxacin, perfloxacin) và nhóm dùng các kháng sinh khác thấy nhóm dùng FQ gây chứng đau các khớp lớn, đau cơ chiếm 3,8%, cao hơn so với nhóm dùng các kháng sinh khác 0,4%, tuy nhiên ở cả hai nhóm không ghi nhận được các tổn thương cơ xương nặng hay kéo dài (Chalumeau M -2003). Trong một quan sát tiền cứu, trên 116 trẻ sơ sinh điều trị bằng FQ (ciprofloxacin) không ghi nhận được các tác dụng phụ trên thận, gan, huyết học cũng như các bệnh lý về khớp hay bất thường về tăng trưởng sau một năm theo dõi (Drosson, AgakidonV-2004). Một tổng kết trên 7.000 người từ 5-24 tuổi dùng FQ (ciprofloxacin, ofloxacin, acid nailidixic) không thấy có mối liên quan giữa việc dùng thuốc và các bệnh lý khớp.

Như vậy hiện chưa có bằng chứng FQ gây ra các bệnh lý tổn thương cho người và cho riêng trẻ em. Tuy nhiên mối lo ngại về tai biến này vẫn còn tồn tại.

+ Sợ làm tăng tỷ lệ vi khuẩn kháng FQ

Trẻ em là nhóm người lành mang các vi khuẩn chính (vi khuẩn gốc). Dùng FQ sẽ có thể làm cho các chủng này chọn lọc, sinh ra các chủng kháng FQ. Thật ra, sự kháng FQ do quá trình đột biến tự phát nhiễm sắc thể, làm thay đổi các gen mã hóa enzym DNA-gyrase và toipomerase IV. Sự tăng các chủng vi khuẩn kháng FQ là do dùng rộng rãi, sai nguyên tắc FQ tại cộng đồng, chứ không riêng gì do dùng cho trẻ em.

+ Chưa có dạng dùng thích hợp cho trẻ em.

Phần lớn các FQ dùng dạng tiêm, một số ít dưới dạng viên nang ( có thể cho trẻ lớn tuổi) chưa có dạng nhũ dịch (hợp cho trẻ nhỏ tuổi).

+ Chưa nghiên cứu đầy đủ liều cho trẻ em.

Trong các giới thiệu về FQ không ghi liều trẻ em. Khi dùng phải dò liều, theo dõi tác dụng phụ một cách chặt chẽ.

39304.jpeg

Pseudomonas gây viêm phổi, viêm tai giữa có mủ… ở trẻ em.

Trường hợp nào có thể xét dùng cho trẻ em?

FQ có phổ kháng khuẩn rộng, tỷ lệ bị vi khuẩn kháng vẫn còn thấp. Ở Hồng Kông mức kháng FQ là 3,8% trong khi mức kháng betalactam là 15% (2006). Nếu hoàn toàn không dùng cho trẻ em thì bỏ mất một số cơ hội chữa bệnh cho trẻ trong khi các thuốc khác có hiệu lực kém hay không đáp ứng. Vì vậy, tuy không được phép chính thức, nhưng các nhà lâm sàng vẫn xét dùng FQ trong một số trường hợp đặc biệt:

+ Những trường hợp nhiễm Pseudomonas aeruginosa: Các trường hợp bệnh nhi nhiễm khuẩn này gây viêm phổi (trên nền bệnh lý xơ nang phổi) dùng các kháng sinh khác thường có độ nhạy cảm thấp hay bị kháng. Trong khi đó dùng ciprofloxacin dạng uống cho hiệu quả cao. Các trường hợp bệnh nhi bị viêm mủ tai giữa do khuẩn này không thể điều trị khỏi bằng vệ sinh tai và các kháng sinh khác kể cả ofloxacin thì dùng ciprofloxacin đường toàn thân cho hiệu quả cao.

+ Viêm tai giữa cấp có biến chứng: Viêm tai giữa cấp có biến chứng có khi dùng betalactam quy ước hay dùng macrolic (khi người bệnh bị dị ứng với betalactam) không đáp ứng, thì việc dùng gatifloxacin (trong một nghiên cứu rạch màng nhĩ) cho kết quả cao. Tuy nhiên vì thuốc không có dạng nhũ dịch nên việc dùng thuốc này bị hạn chế.

+ Trường hợp nhiễm vi khuẩn Gram âm kháng thuốc: Trường hợp bị nhiễm khuẩn thương hàn Samonella typhi không còm đáp ứng với bactrim chloramphenicol, nhiễm Samonella non-typhi, Escheria Coli, Shigella không còn đáp ứng với các thuốc truyền thống bactrim, berberin, thì dùng FQ (nalidixic hay ofloxacin) thường cho hiệu quả cao.

+ Viêm màng não mủ: Một nghiên cứu dùng trovafloxacin điều trị cho 116 bệnh nhi viêm màng não mũ do phế cầu có hiệu quả lâm sàng và tỉ lệ di chứng tương đương với dùng ceftriaxon cộng với vancomycin (Saéz L-Loren X-2002) nhưng cần biết trovafloxacin gây độc tính trên gan (có thể dẫn tới tử vong). FQ cũng đã được thử điều trị thành công viêm màng não do Enterobacteria kháng thuốc gây ra (KréméryV-1999).

Như vậy, chỉ xét dùng FQ cho trẻ em khi bị nhiễm khuẩn khó điều trị, có thể bị đe doạ do tính mạng hay khi trẻ không thể dùng các kháng sinh khác do dị ứng, do độc tính, do kháng thuốc.

Ở nước ta dùng FQ sau các nước Âu, Mỹ hàng chục năm song tình trạng lạm dụng thuốc này cho cả người lớn lẫn trẻ em khá nhiều, phổ biến nhất là trong các nhiểm khuẩn hô hấp. Cần hạn chế và chỉ dùng cho trẻ em khi thật cần thiết.

DS. Bùi Văn Uy

Posted in Uncategorized | Tagged | Leave a comment